0985.910.420

Phân biệt các loại trà

Kết quả hình ảnh cho tra o long

– Trà nụ: nụ còn non (nụ hạt tiêu), hái về phơi trong bóng râm, cho đến khô màu xanh, nếu phơi nắng thì chóng khô, nhưng nụ màu đỏ, chất lượng kém. Cafein thấp: 2,00%, ít kích thích, được phụ nữ và người già ưa dùng, Pha nước sôi lâu ngấm, nên trà ít đãi khách. Có khi ướp thêm hoa cúc, có mùi thơm dễ chịu. Sản xuất nhiều ở Nghệ An, Hà Tây, Hòa Bình
– Trà tươi: là lá trà non và già, to nhỏ, xanh tươi, không qua chế biến, hái về rửa sạch vò nhầu lá bằng tay rồi cho vào nồi hoặc ấm đun nước loại to, đun sôi, chắt ra chén uống ngay hoặc cho vào ấm tích ủ nóng để uống dần trong ngày, màu nước xanh tươi màu lục diệp
– Trà Bạng: gồm lá trà già là chủ yếu, giã nát, hay làm băm nhỏ thành mẩu dài như nhau, 2mm-1cm, màu xanh đen và hơi đỏ. Lá trà không chế biến, chỉ sấy đơn giản, không có lông tuyết. Trà Bạng có tỷ lệ lớn nhất về chất béo: 7.14%, Tanin: 5.25%, tro tổng số: 4.30%, tro hoà tan: 1.40%, Cafein 2.00%, chất hoà tan: 19,10%, đạm: 1,25%, chất béo 7,14%. Trà Bạng được chế biến từ xa xưa tại làng Vân Tra, giáp Bạng thượng – Thanh Hoá. Trà Bạng Huế sản xuất tại Truồi – Thừa Thiên cũng chế biến từ lá già, cuỗng trà, cành trà non, băm giã, chế biến đơn giản, ủ rồi phơi nắng.
– Trà mạn: trà truyền thống vùng trà cổ miền núi phía Bắc Việt nam, nguyên liệu non, một tôm 2,3 lá non, giống trà Tuyết (Shan), cuống dài, chế biến đơn giản, thủ công. Búp trà hái về, sao nhanh trong chảo gang, rồi vò bằng tay xong, tãi ra phơi nắng đến khô; trà bán thành phẩm nhồi vào ống bương to đặt trên gác bếp để bảo quản gọi là Trà Lam. Mặt trà thô, búp có tuyết trắng, chất lượng rất tốt. Mẫu trà Tuyết Lu  (Bắc Hà – Lào Cai) có tanin: 10,10%, Cafein 3,00%, chất hoà tan 33,00%. Mẫu trà Tuyết Hà giang số 95 có tanin 10,54%, Cafein 3,10%, chất hoà tan 34,30%. Nước trà màu đỏ, vị dịu, mát , thuần hoà không chát mạnh như trà xanh, trà lục. Trà rời cánh thô, ít xoăn, lồng cồng. Trà chi là trà mạn ép thành bánh tròn, gói bẹ diễn, đóng thành cối gồm 10-12 bánh. Khi uống, từng miếng trà. Pha trà nước màu đỏ, vị chát dịu, mát được mọi người ưa chuộng.
– Trà Ô Long: Chế biến từ những lá non, phơi nắng trên những tấm phên bằng tre, vò nát và đựng trong các rổ tre. Mục đích của sự vò nát là để làm hư hại những mạch dẫn nhựa và cạnh lá, tạo ra màu đỏ. Sau đó, lá Trà được ủ ngắn hạn trong vài tiếng đồng hồ, và sao liền tay trên các chảo nóng trong một tuần nhang và sấy khô.
– Trà đen: Màu đen của trà là do quá trình chế biến, khi lên men gây oxid hóa các polyphenol của trà tươi. Trong giai đoạn phản ứng sinh hóa lúc trà lên men, đó là sự oxid hóa của catechin do polyphenol oxidase cho ra chất Theaflavin monogallate và Thearubugins, tùy thuộc vào các điều kiện mà nhà sản xuất mong muốn cho sản phẩm của mình mang các hương vị đặc biệt mà cho liều lượng thời gian, nhiệt độ và ánh sáng trong các giai đoạn lên men, nhưng nói chung các thành phần có trong trà đen sau chế biến như vừa nêu đều có tác dụng là ngăn chặn và ức chế hoạt động của các gốc tự do và chống nhiễm trùng.
– Trà hương: dùng các hương liệu khô, như hoa ngâu khô, hoa cúc khô, hạt mùi, tiểu hồi, đại hồi, cam thảo, quế… pha trộn với các tỷ lệ khác nhau. Khi uống trà mang hương của hương liệu ủ, thơm và rất ngon
– Trà hoa tươi: trà được ủ với hoa tươi, phổ biến gồm có: sen, nhài, ngọc lan, sói, ngâu, bưởi, quế, … Mỗi nhà sản xuất có bí quyết công nghẹ gia truyền riêng.
– Trà hoà tan: có dạng bột tơi xốp, rất mịn, gồm những hạt nhỏ, màu vàng nhạt (trà xanh), nâu nhạt (trà đen). Hàm lượng tanin, catesin, axit amin, cafeine rất cao, gấp trà nguyên liệu. màu nước, vị trà đạt yêu cầu, nhưng hương nhạt, vì bay hết trong quá trình chiết xuất, cô đặc và sấy.
– Trà túi lọc (tea bag): Tỷ lệ trà mảnh, trà vụn có nhiều trong công nghệ trà CTC và OTD. Túi trà có sợi dây buộc nhãn hiệu của hãng sản xuất, khi pha chỉ cần nhúng túi vào cốc hoặc chén nước sôi, túi bã trà vớt lên dễ dàng, không cần ấm pha trà mà lại sạch.