0985.910.420

Nguồn gốc trà đen Bá Tước

Trong Văn hoá phương Tây, thường đề cập đến trà đen loại trà nổi tiếng này thường được làm ra nhiều thức uống khác nhau. Người dân ở đây đặc biệt ưu ái, thậm chí bữa ăn sáng phổ biến của người Anh còn trộn thêm Earl Grey(trà đen bá tước).

Tên gọi của trà bắt nguồn từ thủ tướng Anh Quốc

Trà đen Bá Tước – Earl Grey là loại trà được đặt theo tên của Earl Grey đệ nhị, thủ tướng Anh Quốc trong thập niên 1830. Người dân Anh vẫn kể cho những  người bạn ngoại quốc nghe về câu chuyện Trà Bá Tước – Earl Grey loại trà được khám phá ra bởi Charles Grey khi ông làm đại sứ Anh tại Trung Quốc. Để tạo hương vị đặc trưng cho loại trà này ông đã cho bổ sung tinh chất quả Bergamot vào trà, tạo nên mùi thơm sang trọng, trầm lắng, đúng như tên gọi “Bá tước” của nó.

Nhưng trên thực tế thì Earl Grey chưa bao giờ đặt chân tới Trung Quốc và người Trung Quốc cũng hoàn toàn không biết tới quả Bergamot. Theo một giả thuyết khác, thì cho rằng chính các chuyên gia đã tạo ra một loại trà đen Bá Tước mới bằng cách kết hợp sáng tạo chè đen với tinh dầu Bergamot và đặt theo tên Earl Grey – vì ở Anh, Earl Grey là một người nổi tiếng và có công với đất nước.

Đối với mỗi người dân Việt Nam thì Bergamot có trong trà thực sự là loại quả mà rất ít người biết, bởi bì nó là loại quả có nguồn gốc Địa Trung Hải. Loại cây này lai giữa cam và quýt vì thế nên có các múi nhỏ màu vàng xanh. Nó được tìm thấy ở quần đảo Canaria, thuộc Tây Ban Nha, nhưng phát triển mạnh ở Sicilia– hòn đảo lớn nhất ở Địa Trung Hải. Ở Ý, loại cây Bergamot đã được trồng từ lâu và thành phố Bergamot là nơi đầu tiên quả Bergamot được bày bán. Nhưng có lẽ mọi người sẽ ít biết đến Bergamot nếu người Anh không thêm nó vào trà đen Bá Tước.

Trà đen được tìm thấy đầu tiên ở Trung Quốc

Trà được xem là có nguồn gốc ở Trung Quốc. Nhưng đó là loại trà xanh tinh tế, tươi mới đã trở nên phổ biến trong xã hội phương Đông và vẫn là nền văn hoá trà ở đó. Khi mà văn hoá trà lan ra và trà được chế biến để xuất khẩu sang các vùng khác, các nước láng giềng và cuối cùng là các đại dương, người ta phát hiện ra rằng trà đen bị oxy hoá sẽ giữ được độ tươi và hương vị tốt hơn những chuyến đi dài hơn người anh đã tìm thấy trà đen Bá Tước cũng thông qua cách này. Trong những ngày đầu của thương mại biên giới giữa Trung Quốc, Tây Tạng và các nước láng giềng khác, trà đã được lên men, sấy khô và ép thành gạch để sử dụng làm ngoại tệ. Cho đến ngày nay, hầu hết trà đen được sản xuất ở Trung Quốc đều được xuất khẩu ra khỏi đất nước.

Hà Lan đầu tiên đưa trà đen vào châu Âu vào năm 1610, nó đã đến Anh vào năm 1658, và sau đó nó đã tăng phổ biến ở các thuộc địa của nước Anh ở Anh trong suốt những năm 1700. Đến năm 1800, người ta ước tính dân Anh hàng năm tiêu thụ 2 pound trà và 17 pound đường trên đầu người. Một số người cho rằng đó là xu hướng gia tăng việc bổ sung đường vào trà làm tăng nhu cầu về trà đen mạnh mẽ hơn so với nhập khẩu trà xanh tinh tế hơn.

Quá trình oxy hóa làm nên trà đen Bá Tước

Điều làm cho trà đen Bá Tước khác với trà xanh là trong quá trình sản xuất, lá chè được cho phép oxy hóa hoàn toàn trước khi chúng được xử lý nhiệt và sấy khô. Trong quá trình ôxy hóa, oxy tương tác với thành tế bào của cây chè để biến lá có màu nâu sẫm sang màu đen thành trà đen nổi tiếng.

Bergamot trong trà có công dụng giúp xua tan mọi căng thẳng và trấn tĩnh, an thần, rất hiệu quả trong việc hỗ trợ tiêu hóa, có tác dụng giảm stress. Nó là một trong những loại tinh dầu có giá trị quý giá nhất giúp lấy lại sự cân bằng cho tinh thần và sức khỏe. Điều này trái ngược với các nền văn hoá phương Đông ở các nước như Trung Quốc và Nhật Bản – nơi trà thường dùng để chỉ trà xanh.

Trà đen Bá Tước có hàm lượng caffeine xếp thứ 2 sau cà phê trong mỗi cốc, và hơn hẳn trà xanh. Giống như bất kỳ loại nước giải khát nào được pha từ cây caffein, có rất nhiều yếu tố có thể xác định hàm lượng caffein trong cốc trà đen Bá Tước của bạn, bao gồm cách nhà máy chế biến và công thức pha chế.